ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH THẬN MẠN VÀ TUỔI ĐỐI VỚI TỈ LỆ TÁI THÔNG MẠCH VÀNH TRONG NMCT CẤP
The influence of chronic kidney disease and age on revascularization rates and outcomes in acute myocardial infarction – a cohort study. S Kotwal, I Ranasinghe, D Brieger et al. Eur Heart J: Acute Cardiovascular Care 2017, Vol. 6(4) 291-298.
Người dịch: BS Nguyễn Minh Chánh.
Hiệu đính: ThS BS Bùi Hữu Minh Trí
Nền tảng:
Có rất ít dữ liệu về mối tương quan phức tạp của bệnh thận mạn, tuổi tác và ảnh hưởng của nó lên việc điều trị và kết cục trong nhồi máu cơ tim cấp.
Phương pháp:
Dữ liệu quốc gia về tất cả các trường hợp nhập viện ( chiếm 32,3 % dân số Úc) được sử dụng để xác định tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán NMCT cấp (mã ICD 10: 21.0-I21.4) trong khoảng thời gian 4 năm. Bệnh nhân được liên quan với đăng kí tử vong quốc gia và theo dõi đến khi chết hoặc kết thúc theo dõi (31/12/2009). Bệnh thận mạn được định nghĩa là sự hiện diện của bất kì trong 65 mã ICD 10 nào dành cho chẩn đoán bệnh thận mạn. Kết cục chính là có tái thông mạch máu, thời gian nằm viện, tử vong theo tuổi, bệnh tật và tái thông mạch máu trước đó.
Kết quả:
Trong số 40.472 bệnh nhân NMCT cấp, bệnh thận mãn tính có ở 4818 bệnh nhân (11,9%). Theo dõi trung bình 2,8 năm ( khoảng 0-5 năm). Trong mô hình đa biến, có sự tương tác rõ rệt giữa bệnh thận mạn và tuổi (p< 0,001). Bệnh thận mạn là chỉ điểm mạnh đối với tỉ lệ tái thông mạch máu thấp hơn (nhóm tuổi trung vị 70-79 tuổi: OR 0,68; 95% KTC 0,59-0,78; p <0,001), đặc biệt ở những người trên 50 tuổi. Tác động của bệnh thận mạn đối với thời gian nằm viện (nhóm tuổi trung vị 70-79 năm so với nhóm tuổi tham chiếu 18-39 tuổi: tỷ lệ mới mắc 1,41; 95% KTC 1,32-1,51; p <0,001) và tỉ lệ tử vong dài hạn (nhóm tuổi trung vị 70-79 tuổi: tỷ lệ nguy cơ 2.19, 95% KTC 2,01-2,39, p <0,001) có giảm nhẹ theo tuổi tăng dần.
Kết luận:
Bệnh thận mạn là yếu tố cản trở quan trọng trong việc tiếp nhận tái thông mạch máu trên BN lớn tuổi. Nhưng tuổi tác là yếu tố quyết định chính thời gian nằm viện và tử vong.
.