THÔNG TIN Y HỌC CHO BỆNH NHÂN

TƯ VẤN SỨC KHỎE: NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH TIM BẨM SINH
[ Cập nhật vào ngày (23/05/2016) ]


Dị tật tim bẩm sinh hình thành từ trong bào thai và thường tồn tại từ khi trẻ được sinh ra. Các dị tật của tim và mạch máu lớn  xảy ra trong 2 tháng đầu của thai kỳ, vào lúc hình thành các buồng tim, van tim, và các mạch máu lớn.
Tỷ lệ mắc bệnh tim bẩm sinh (BTBS)    
Theo thống kê tại Mỹ, tỉ lệ trẻ BTBS tăng lên từ 0.6  trong 1000 trẻ em sinh ra năm 1930 lên 9.1 trong 1000 trẻ sinh ra còn sống từ sau năm 1995.Tỉ lệ trẻ mắc BTBS ở các nước Châu Á là cao nhất: 9.3 trong 1000 trẻ sinh ra còn sống, kế tiếp là ở các nước Châu Âu và các nước Bắc Mỹ là 8.2 và 6.9.
Nguyên nhân BTBS
Các yếu tố gây rối loạn quá trình hình thành của trái tim và mạch máu (trong 3 tháng đầu của thai nhi) có nguy cơ gây ra những khiếm khuyết về hình thái và cấu trúc của tim và mạch máu, tạo ra các khuyết tật bẩm sinh. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, chúng ta không biết nguyên nhân gì gây ra dị tật. Do vậy không nên cho rằng con mang dị tật TBS là lỗi của cha mẹ. Các yếu tố đã được chứng minh có liên quan tới khuyết tật TBS  bao gồm:
•    Do di truyền và những bất thường nhiễm sắc thể như: 21, 18, 13, 22… gây hội chứng Down, hội chứng Tunner.
•    Do virut: người mẹ bị nhiễm virut trong những tuần đầu khi mang thai (trong 3 tháng đầu), thì đứa trẻ có thể mang những dị tật ở tim hoặc các bộ phận khác. Ví dụ, nếu một bà mẹ bị nhiễm sởi Đức (rubella) trong thời kỳ mang thai (trước tuần thứ 20) thì virut có thể ảnh hưởng đến sự phát triển tim của thai nhi hoặc có thể gây ra những bất thường về cấu trúc của các cơ quan khác như mắt, tai, não. Dị tật về tim khiến trẻ gặp khó khăn trong hô hấp và ảnh hưởng đến sự phát triển.
•    Do thuốc: người mẹ sử dụng một số thuốc không có chỉ định của bác sĩ, uống rượu, tiếp xúc với các hóa chất độc hại (thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật…) trong thời kỳ mang thai cũng có thể làm tăng nguy cơ sinh con mắc dị tật tim…
Những biểu hiện của trẻ BTBS
Tùy bệnh lý mà trẻ có những biểu hiện sớm hay muộn.Đối những trẻ thuộc nhóm BTBS tím thường được phát hiện sớm khi mới sinh ra. Những trẻ không tím thường phát hiện trể với những triệu chứng như: viêm hô hấp tái đi tái lại nhiều lần, trẻ suy dinh dưỡng chậm phát triển, mệt khó thở khi gắng sức hay  khi trẻ bú, trẻ lớn thì thấy tức ngực, hồi hộp khi gắng sức . Trong một số trường hợp BTBS không có những triệu chứng gì và chỉ được phát hiện khi khám sức khỏe định kỳ.
Điều trị
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật nên hầu hết các BTBS đều được điều trị triệt để và đem lại cuộc sống cho người BTBS gần như người bình thường nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.
-Phẫu thuật
Theo phương pháp bệnh nhân phải mở lồng ngực và chạy tim phổi nhân tạo. Đây là phương pháp điều trị kinh điển và có vai trò quan trọng trong điều trị BTBS tím, BTBS phức tạp như: tứ chứng Fallot, đảo gốc động mạch…. được phẫu thuật sữa chữa hoàn toàn, bệnh nhân sau phẫu thuật phát triển và sinh hoạt gần như người bình thường nếu được phát hiện và điều trị đúng lúc. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là bệnh nhân phải chịu cuộc đại phẫu, truyền máu và sau đó để lại vết sẹo mỗ lớn trên ngực.
-Thông tim can thiệp
Với sự phát triễn không ngừng  của Y học người ta đã áp dụng thành công những phương tiện máy móc trong lĩnh vực tim mạch đã khắc phục những nhược điểm của phẫu thuật. Đối với những bệnh tim như: thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch,…..bệnh nhân sẽ được điều trị bằng thông tim can thiệp bằng cách chích kim ở vùng bẹn như chích thuốc tĩnh mạch để đưa dụng cụ theo dây dẫn vào buồng tim và bít lỗ thông lại bằng dù Amplatzer. Dù Amplatzer là dụng cụ được tạo từ những sợi Nitinol có kích thước 0.004 đến 0.005mm, có hình 2 cánh ô liên kết với nhau bằng eo ở giữa, được thu lại nhỏ để đưa vào mạch máu và khả năng nhớ hình tốt tạo 2 cánh để bít lỗ thông trong buồng tim lại.
Ưu điểm phương pháp này là bệnh nhân không phải chịu cuộc mỗ lớn, không gây mê, không truyền máu, không để lại sẹo và thời gian thủ thuật ngắn, tỉ lệ thành công phương pháp này rất cao trên 98%. Phương pháp này không những mang lại lại ích lớn cho bệnh nhân về độ an toàn hiệu quả, chi phí cũng thấp mà nó còn hỗ trợ cho những nhà ngoại khoa để chẩn đoán hết những tổn thương bệnh tim phức tạp để phẫu thuật thành công cao.
Từ 2013 Bệnh viện Tim mạch An Giangđã bắt đầu áp dụng phương pháp nàyđể điều trị cho khoảng 57 trường hợp thông liên nhĩ, 18 trường hợp thông liên thất, 24 trườnghợp còn ống động mạch với tỉ lệ thành công cao và có biến chứng nặng nào xảy ra. Bệnh nhân không cần phải đi xa lên tận thành phố Hồ Chí Minh,không phải tốn chi phí đi lại, mất thời gian chờ đợi để được điều trị, và chi phí cũng không quá cao. Hiện nay Bệnh viện Tim mạch An Giang đang theo dõi và tiếp tục điều trị cho rất nhiều bệnh nhân BTBS.Hầu hết số bệnh nhân này cần điều trị sớm bằng biện pháp thông tim can thiệp như đã nói ở trên nhưng lại chưa đủ điều kiện kinh tế. Bệnh viện Tim mạch An Giangkêu gọi sự hổ trợ của các nhà hảo tâm để các bệnh nhân này được điều trị sớm.
Những việc gia đình cần làm cho trẻ BTBS
Trẻ cần phải được khám bởi bác sĩ chuyên khoa TBS để có hướng điều trị kịp thời. Đối với những trẻ đã được điều trị bằng phương pháp can thiệp hay phẫu thuật phải tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ, khi có phẫu thuật khác hoặc nhổ răng cũng cần hỏi ý kiến bác sĩ. Đối với những trẻ được điều trị bằng phương pháp can thiệp thì chỉ được phép vận động  nhẹ nhàng trong 3 tháng đầu, tránh những va chạm mạnh làm tác động lên ngực trẻ, tránh khiêng vác nặng, sau 3 tháng đó thì dụng cụ đã được nội mạc hóa và cố định an toàn nên trẻ coi như người khỏe mạnh sinh hoạt như người bình thường. Đối với những trẻ được phẫu thuật tim phức tạp thì tùy theo sức khỏe mà có những chế độ sinh hoạt phù hợp với trẻ.
Phòng ngừa BTBS
Những dị tật TBS xảy ra trong thời kì bào thai, đặc biệt 3 tháng đầu thai kỳ, nên muốn ngừa BTBS chúng ta cần phải quan tâm giải quyết tất cả những vấn đề liên quan đến sức khỏe và bệnh tật của người mẹ trước và trong khi mang thai như: cải thiện môi trường sống , tránh ô nhiễm, tránh các tác nhân vật lí , hóa học, các loại thuốc an thần, rượu, thuốc lá. Chủng ngừa và tránh tiếp xúc với các nguồn lây bệnh do siêu vi như Rubela, quai bị , Herpes….Tích cực điều trị tất cả những bệnh RL chuyển hóa ở người mẹ như : tiểu đường , lupus ban đỏ…Đặc biệt những bà mẹ có yếu tố nguy cơ nên siêu âm tim bào thai khi thai  22 tuần để phát hiện sớm những dị tật TBS cho con.




BS Đòan Thành Thái; BS Bùi Hữu Minh Trí

  In bài viết



Tìm kiếm

TIN TỨC & SỰ KIỆN


Đơn vị trực thuộc

Text/HTML

SƠ ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

Thư viện ảnh

thư viện VIDEO

tiện ích